Thứ Hai, 5 tháng 2, 2018

Tại Sao Người Việt Nam Ai Cũng Yêu Thích “Tam Quốc Diễn Nghĩa” Tóm Lại Chỉ Ở Một Chữ Mà Thôi!

Trung Quốc với gần như tiểu thuyết lịch sử, thậm chí có người đề cập còn diễn tả rằng "mênh mông như biển cả". Nhưng cho đến nay, không sở hữu bộ tiểu thuyết nào ăn sâu vào lòng người giống như "Tam Quốc diễn nghĩa".



Vậy chủ đề của "Tam Quốc diễn nghĩa" là gì? tại sao lại được nhiều người, nhiều đời lưu truyền nhau như vậy? người già ngày xưa thường hay ngồi và lấy " Tam Quốc diễn nghĩa" ra bàn luận, khen ngợi tình anh em kết nghĩa của "Lưu – Quan – Trương" (Lưu Bị – Quan Vũ – Trương Phi).

Điều khiến cho "Tam Quốc diễn nghĩa" trường tồn theo năm tháng

Vậy cuối cùng "Tam Quốc diễn nghĩa" vì điều gì mà được lưu truyền trong khoảng thời đại này qua thời đại khác lâu như vậy? lẽ http://chanhkien.org nào chỉ vẻn vẹn là vì những cuộc "đấu trí, so dũng" thôi sao? Hay là vì điều gì thâm thuý ẩn giấu bên trong tác phẩm này?

Kỳ thực, tác pretend La Quán Trung đã kể rõ chủ đề của tác phẩm. Chính là sử dụng lịch sử của ba quốc gia để diễn giải về chữ "nghĩa" của con người làm cho chủ đề chính. Và các nhân vật, anh hùng, minh chúa, các vị quân sư nhân tài, thảy đều là các "diễn viên" xuất sắc cho 1 kịch bản to này.

những người mang một chút am hiểu về văn hóa truyền thống đều biết, tư tưởng chủ yếu của Nho gia xuyên suốt hơn 2.000 năm chính là "Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín". Trong Đó, "Nghĩa" đứng ở vị trí thứ 2, xếp trước "Lễ, Trí, Tín" và ngay sau chữ "Nhân".

Bởi vì "Nhân" là loại cảnh giới thuần thiện, phàm đã là con người thì điều đầu tiên phải với chính là sở hữu "lòng nhân", phải là một "con người" trước đã. Cũng chính là điểm khác biệt to nhất giữa con người và các loài động vật, các chiếc thực vật hữu cơ – vô sinh trên dương gian này. nếu như mất đi chữ "nhân" (nhân trong khoảng, bác ái, nhân văn, nhân đạo, nhân hoà, nhân chi sơ tính bản thiện…) thì con người đó, chỉ còn lại chữ con, và mất đi chữ người (nhân). Khổng Tử khi về già mới thực thụ hiểu rõ được nội hàm của chữ "Nhân". Còn "Nghĩa", "Lễ", "Trí", "Tín" là 1 mẫu nguyên tắc khiến cho người ngay sau Đó, thì con người lại càng tiện lợi bỏ qua mà rời xa.

"Tam Quốc diễn nghĩa" là ưng chuẩn chính trị, quân sự, và sự kết thân giữa ba nước Ngụy, Thục, Ngô để diễn giải sâu hơn về nội hàm thâm tầng của chữ "Nghĩa", nếu như chỉ nói "nghĩa" là gì mà ko đưa ra viện dẫn cụ thể, thì Đó chỉ là lý thuyết và không thể nào làm cho con người có thể "thấm" được mẫu tinh thần thâm sâu của nó, chính vì thế thời Tam Quốc các anh hùng phải gánh vác vai trò này, diễn 1 màn kịch hoành tráng, diễn thật sâu, thật ấn tượng, thật tài ba để tạo thành 1 bản thiên anh hùng ca, lưu truyền muôn thủa.

Quan Vũ được Tào dỡ tha mạng cho ông một lần, suốt đời ông không quên, chính vì Tào túa quý trọng nhân tài, kính nể người anh hùng, chậm tiến độ cũng là thứ mà Quan Vũ xem trọng nhất, là tình cảm thực thụ Tào túa dành cho ông. thành ra, trên đường Hoa Dung năm đó, nếu như cần, Quan Vũ có thể chết theo quân lệnh để giữ trọng chữ Nghĩa của mình. Quan Vũ đã đem nội hàm của chữ "Nghĩa" diễn dịch tới cực hạn.

với thể nhắc, "Tam Quốc diễn nghĩa" sở dĩ có thể trường tồn mãi trong lịch sử, trường hưng thịnh ko suy chính là bởi vì chủ đề chữ "Nghĩa" cao thượng này.

"Trí, mưu" ở sau chữ "Nghĩa"

Người đương đại chúng ta chú trọng chính là mưu chước của thời Tam Quốc. Thậm chí họ đem cả mưu chước này áp dụng ở chốn quan trường, thương trường và cả tình trường, họ chẳng hề cảm nhận được nội hàm của chữ "Nghĩa". Điều này thực sự là đáng nhớ tiếc, chính là "bỏ gốc lấy ngọn", ko phân biệt được đâu là chính yếu, đâu là thứ yếu!

Kỳ thực, dưới ngòi bút của La Quán Trung, "Trí và mưu" là phạm trù nằm trong "Nghĩa", "Nghĩa" bao hàm cả "Trí và mưu". Con người trước hết phải với "Nghĩa" sau Đó mới mang hầu hết những thứ khác. nếu như ko "Trí và mưu" kia chỉ là để khiến cho hại người, đạt được các mục đích tư lợi tư nhân, sự ích kỷ hẹp hòi… thì làm cho sao với thể toát lên loại vĩ đại, chiếc hào quang chói lọi của một chữ "Nghĩa" mà những bậc anh hùng đời đời ca tụng và xem trọng tới vậy?

Cũng như, phải sở hữu một Gia Cát Lượng "cúc cung tận tụy tới chết mới thôi", rồi sau mới có một Gia Cát Lượng "mưu trí". kể cách thức khác, ví như như chơi gặp được anh quân "trung nhân ái quốc", Gia Cát Lượng thà rằng chết già ở lều cỏ chứ không nguyện ý đặt chân vào chốn quan trường hỗn loạn, vì vốn dĩ ông chẳng phải là 1 người bình thường, mà là 1 người "siêu thường" có trí óc như biển cả của 1 người tu Đạo chân chính, ẩn cư nơi rừng già, ngẫm nhìn sự thế đổi dời mà trong lòng an nhiên tĩnh tại. Đây cũng chính là điểm đáng quý nhất của Gia Cát Lượng, cùng lúc cũng chính là điểm mà người đương đại coi trọng 'mưu kế', bỏ qua đạo đức lễ nghĩa truyền thống ko cách thức nào hiểu được.

"Thánh nhân đãi kẻ khù khờ", vì Lưu Bị ko phải có tư tâm, chỉ có một tấm lòng thực lòng chân chất muốn phục hưng Hán thất trong thời loạn thế, nên mặc dầu chỉ là gã bán giày ngoài chợ, nhưng dần dần ông lại được những anh hùng theo nhau kéo về,…. từ 2 anh em Trương Phi – Quan Vũ ngoài chợ, cho tới hào kiệt kiệt xuất nghìn năm khó kiếm như Gia Cát Khổng Minh cũng phải "hạ sơn" để cùng ông mưu đồ nghiệp to. Trải qua một cuộc tang thương, rút cuộc anh chàng bán giày chậm triển khai đã đăng cơ lên ngôi Hoàng đế, hùng bá một phương trời, nhưng trong lòng người anh hùng ấy, cũng không bao giờ vì địa vị tiền tài che mờ đi ý chí thống nhất Trung Hoa, để muôn dân trăm họ được sống trong cảnh thanh bình, nhân nghĩa trải dài ngàn năm…

mang người thậm chí đề cập, Gia Cát Lượng giả dụ theo Tào dỡ thì đã sớm giúp Tào túa hoàn thành việc thống nhất người đời. Người "trọng lợi danh, khinh nghĩa" sao có thể hiểu được chọn lọc này của ông? ví như "Tam Quốc diễn nghĩa" chỉ đơn giản là biểu đạt mưu mẹo sách lược thì thực thụ sẽ rất nông cạn, chỉ có thể được xem là một bộ tiểu thuyết binh pháp thường ngày mà thôi, chẳng thể là 1 trong tứ đại danh tác Trung Hoa được.

Kỳ thực, "Tam Quốc diễn nghĩa" là xuyên suốt nội hàm cao siêu của tiêu chuẩn đạo đức, luân lý truyền thống. Nó vượt xa khỏi phạm trù như lời đề cập "từ trên xuống dưới đều là tranh đoạt lợi" của Mạnh Tử. Nó là một loại cảnh giới vô tư, không vụ lợi và được gọi là "Nghĩa".

"Tam Quốc diễn nghĩa" ngoài chủ đề diễn giải về chữ "Nghĩa" ra còn có đạo lý "Nhân quả báo ứng", "Thuận theo tự nhiên", "Người tính ko bằng trời tính"… chậm triển khai đều là những nguyên lý bao dung của đất trời, thấm nhuần vạn sự vạn vật trên thiên hạ, mang lại sự công bằng, vô tư và hoà ái khắp muôn nơi.

Xét một phương pháp tột độ, thì lịch sử truyền thống ko phải dạy con người ta lừa lật, càng chẳng hề là dạy người ta mưu tính như thế nào, mà chính là dạy người ta cách thức để trở thành 1 người rẻ, được mọi người tôn kính. Bởi vì nắm chắc được điểm này do đó "Tam Quốc diễn nghĩa" mới mang thể "trường cường thịnh ko suy", đi sâu vào lòng người và được lưu truyền qua phổ biến thời đại như vậy!

Từ khóa: Tam quoc dien nghia.

Thứ Tư, 10 tháng 1, 2018

Phong Tăng Tế Công, điên thật hay giả điên?

Khán giả quen với hình tượng Tế Công trên điện ảnh, được xây dựng là một vị sư ăn mặc rách rưới, thích ăn thịt, uống rượu nhưng giỏi thần thông hay giúp đỡ người khác. Chúng ta thích thú khi chứng kiến một vị tăng điên không đạo mạo, hành động phóng túng, tùy tiện, nhưng lại tài giỏi và chứng đắc được quả vị La Hán, vậy thực hư như thế nào?


Tế Công (1130 – 1207 SCN), tên thật là Lý Tu Duyên, một nhân vật có thật và cũng là nhân vật trong tác phẩm văn học dân gian Trung Quốc. Ông sinh ra trong gia đình khá giả, vào thời kỳ đầu triều đại Nam Tống. Năm 18 tuổi, ông xuất gia tại chùa Linh Ẩn ở thành phố Hàng Châu, với pháp danh Đạo Tế.

Tương truyền Tế Công là Giáng Long La Hán, vì mắc lỗi nên Phật Tổ cho chuyển sinh xuống trần, chịu khổ trả nghiệp, và con đường tu luyện của ông đã để lại một câu chuyện sâu sắc về giác ngộ giáo lý nhà Phật.

Theo đại thừa Phật giáo phổ truyền tại Trung Quốc lúc bấy giờ, sư phải kiêng rượu thịt, nhưng ông lại ăn thịt. Thích Ca Mâu Ni trước khi niết bàn đã yêu cầu đệ tử lấy giới làm thầy, đã phạm giới sao có thể chứng đắc quả vị, vậy mà Tế Công lại có thể hiển lộ thần thông, sau đó đắc quả La Hán?

Thực ra Phật giáo từ thời Thích Ca Mâu Ni giảng ngũ huân tức là 5 loại thực vật có tính cay nồng gồm hành, tỏi, hẹ, kiệu và hưng cừ. Ăn những thứ này sẽ ảnh hưởng tới việc các tăng sư ngồi thiền nhập định, còn lại không có giới cấm ăn tất cả các loại thịt. Do Ấn Độ thời cổ đại, cách đây 2.500 năm vốn còn nguyên thủy sơ khai, ngũ cốc canh tác còn ít ỏi, rất nhiều người phải sống nhờ săn bắn thú rừng nên sư tăng không thể lựa chọn đồ ăn được cúng dường. Khi tu luyện, Tế Công đã đạt đến tầng vô chấp vào sắc vị. Vì khổ nạn bị đuổi khỏi chùa Linh Ẩn, thức ăn không có, ông đành kiếm được gì ăn nấy, vì cần duy trì sắc thân người thường để tu luyện nên ông không chấp vào ăn chay hay mặn. Có thơ chứng về giác ngộ của ông:

Cổ thi Phật Tổ để một phong,

Dạy khuyên tu miệng lẫn tu lòng.

Người nay tu miệng, lòng không sửa,

Bần tăng lòng sửa, miệng thì không.

Có rất nhiều giai thoại về những kỳ tích của Tế Công. Có thể tìm hiểu thêm Tế Công tại http://chanhkien.org. Ông được mô tả là một nhà sư ăn mặc rách rưới nhưng luôn vui vẻ, tay trái cầm quạt mo có thể triển hiện phép thần thông, bên tay phải cầm một bầu rượu, hay tràng hạt niệm Phật, hay thỉnh thoảng là một bó rơm khô.

Tế Công cướp dâu

Huyền sử kể rằng lúc Tế Công đến Linh Ẩn Tự thì nằm mộng thấy có một tai họa sắp xảy ra cho dân làng. Nguyên là ngọn núi Linh Thứu chỗ Phật Thích Ca thuyết giảng  “sẽ bay từ Ấn Độ về cực lạc, và sẽ nghỉ chân ngay trước Linh Ẩn tự”. Tế Công vội báo ngay cho dân làng để tránh xa. Nhưng dân chúng lúc đó không tin lời huyền hoặc của một ông sư điên khùng.


Tế Công – một vị hòa thượng kỳ lạ thời Tống triều

Sắp đến giờ tai họa đến mà dân chúng vẫn nhởn nhơ, ngay lúc đó còn lo tổ chức đám cưới cho một đôi trai gái. Tế Công bèn bất chấp lễ nghi, nhảy vào lễ cưới, ôm cô dâu chạy như bay. Dân làng không thể để cho một ông sư ăn thịt chó cướp cô dâu của mình bèn đuổi theo thì bỗng rầm một cái, ngọn núi trên trời rớt xuống nằm ngay trước chùa Linh Ẩn. Khi đó dân làng mới biết Tế Công cứu mình. Ngọn núi đó là Phi Lai Phong, Tế Công giải thích cho dân làng đây là ngọn núi thiên từ Tây Trúc bay qua, nghỉ một thời gian sẽ bay tiếp, muốn đỉnh núi ở lại vĩnh viễn với xóm làng thì hãy tạc trên núi đá 500 bức tượng Phật.

Dùng công năng chuyển gỗ từ giếng lên

Một câu chuyện nổi tiếng kể rằng Tế Công đã dùng công năng để kéo gỗ từ dưới giếng. Để xây dựng lại chùa Tịnh Tử ở Hàng Châu cần huy động rất nhiều gỗ, trong khi loại gỗ tốt nhất lại ở tỉnh Tứ Xuyên cách đó 900 dặm. Không ai có cách chuyển gỗ từ xa như thế về để kịp xây chùa.

Tế Công đã nhận nhiệm vụ này bất chấp sự cười nhạo của các vị sư khác. Ông dùng công năng chuyển hết khối gỗ này đến khối khác, qua đường nước mà chuyển xuống giếng, rồi đứng tại sân nhà chùa mà gọi gỗ, từng khúc từng khúc bay lên trên. Người đời sau đã xây một đình tưởng niệm tại đây và đặt tên là “Giếng Thần Mộc”.

Tế Công có thể triển hiện thần thông, giúp đỡ những kẻ khốn cùng, viện trợ người đang hoạn nạn, nhưng lại để bản thân ăn mặc rách rưới và thiếu đói. Lý do tại sao? Theo Phật gia, mỗi người đều có duyên nghiệp phải trả, người tu luyện trong thế gian cũng không thể mắc nợ mà trốn tránh. Khi xưa Phật Thích Ca sau khi giác ngộ dưới cội bồ đề cũng từng phải chịu chửi rủa từ một người đàn bà do nghiệp nợ kiếp trước. 

Mục Kiền Liên, đại đệ tử của Thích Ca Mâu Ni, mặc dù thần thông đệ nhất, lên thiên đường, xuống địa ngục trong nháy mắt, nhưng cũng đành đứng yên cho người trần đánh đập vì nghiệp lực từ các đời tích lại là không thể không trả. Biết được nguyên lý này, Tế Công không dùng thần thông để tự giúp mình, chấp nhận bị đuổi khỏi chùa, vân du khắp dân gian, chịu đói chịu rét, hoàn trả hết tội lỗi (nghiệp) rồi mới chứng đắc được thân vàng La Hán. Vì hay hành thiện giúp đời, dân gian yêu thích gọi ông là “Tế Hòa Thượng”.

Ngày nay, muốn được thưởng thức những tác phẩm chân chính mà vẫn còn giữ được sự chân thật cổ xưa, khán giả khó có thể tìm được trong các sản phẩm điện ảnh tại Trung Quốc Đại Lục. Bởi vì sự thất truyền và để thu hút số đông khán giả, người ta đã thổi phồng, phóng đại và mô tả không chính xác con đường tu luyện của Tế Công.


Từ khóa: Te Cong. Có thể tìm hiểu thêm Te Cong tại http://chanhkien.org